Vải thiều ăn nhiều cũng tốt

ngày 09/06/2016

Ngoài hương vị “hết chỗ chê”, trái vải còn mang một giá trị dinh dưỡng và y học vô cùng độc đáo.

Mùa hè là thời gian lý tưởng để “nhâm nhi” nhiều loại trái cây. Một trong những loại trái cây “nổi đình nổi đám” trong mùa hè phải kể đến trái vải. Đây là một loại trái cây, ngon quý. Vải thiều có “ngoại hình” đỏ thắm như dâu tây, bên trong là thịt trắng đục, mềm. Giữa trưa hè nóng nực mà được tận hưởng hương vị ngọt ngào thơm tho của trái vải thì thật không có chi mà sướng cho bằng.

Kháng ung thư: thịt của trái vải chứa nhiều hợp chất flavonoids và các chất kháng oxy hóa (antioxidants). Những chất này có chức năng kháng ung thư. Đối với những bệnh nhân ung thư đang được hóa trị liệu (chemotherapy) thì trái vải còn có tác dụng bảo vệ cơ thể trước những tác động có hại của hóa trị liệu. Nhiều nghiên cứu được thực hiện trên chuột cho thấy phần vỏ của trái vải có chức năng ức chế sự tăng trưởng của những tế bào ung thư vú cũng như ức chế sự tạo thành các khối ung bướu. Sở dĩ trái vải có những đặc tính kháng ung thư vô cùng mạnh mẽ là nhờ vào nguồn hợp chất polyphenols dồi dào có trong trái vải.

Điều hòa huyết áp: potassium (Kali) là một loại khoáng tố cần thiết mà cơ thể cần để kiểm soát huyết áp. Hiệp hội Tim Mạch Hoa Kỳ (The American Heart Association - AHA) đề nghị rằng những người có huyết áp cao nên ăn những loại thực phẩm giàu potassium như trái vải. Một chén vải có thể cung cấp cho cơ thể khoảng 325mg potassium, tức là khoảng 9% lượng potassium được đề nghị cho cơ thể mỗi ngày. Bên cạnh đó, trái vải là một loại trái cây có hàm lượng sodium (natri) vô cùng thấp, vì vậy đây là loại thức ăn lý tưởng cho việc điều hòa, kiểm soát huyết áp.

Ngăn ngừa các bệnh tim mạch: trong các loại trái cây có đặc tính kháng oxy hóa thì trái vải được xếp thứ 2 chỉ sau dâu tây. Chất oxy hóa là những “hiệp sĩ” hành hiệp bằng cách chống lại các gốc tự do vốn gây ra những bất ổn cho tế bào trong cơ thể. Thịt trái vải có nhiều hợp chất flavanols có vai trò cải thiện chức năng mạch máu và ngăn ngừa những bệnh về tim mạch. Trái vải còn chứa một hợp chất vô cùng quý giá là oligonol (R) giúp cho tim khỏe mạnh hơn. Ngoài ra, do có chứa hàm lượng vitamin C cao nhờ đó có chức năng bảo vệ tim. Nhiều nghiên cứu khoa học cho thấy những người thường xuyên ăn vải sẽ giảm được tần suất rủi ro nhồi máu cơ tim.

Chứa calorie thấp: nếu bạn đang thực hiện những chế độ dinh dưởng nhằm giảm cân thì bạn đừng quên trái vải. Một chén vải chỉ cung cấp cho bạn 125 calories đồng thời giúp bạn giảm được cảm giác thèm ngọt. Thịt quả vải chứa hàm lượng chất béo không đáng kể đồng thời có chứa nhiều chất xơ. Một chén vải sẽ cung cấp cho cơ thể 2,5g chất xơ vốn rất có lợi cho quá trình thực hiện giảm cân.

Giàu vitamin: trái vải được xem là một “nhà máy” sản xuất ra các loại vitamin. Ngoài vitamin C, vitamin E, vitamin K,… thịt trái vải còn chứa nhiều vitamin B6. Chỉ cần một nắm trái vải thì bạn có thể “kiếm thêm” được 10% hàm lượng vitamin B6 cần thiết cho mỗi ngày dễ như trở bàn tay. Vitamin B6 tham gia vào một số tiến trình của cơ thể như tiêu hóa, phân hủy thức ăn, tham gia vào quá trình tạo hồng cầu và giúp cơ thể chống lại các bệnh viêm.

Chất giảm đau thiên nhiên: do giàu hợp chất flavanols, trái vải còn có tác dụng như một chất giảm đau do có khả năng chận đứng quá trình viêm cũng như ngăn chặn sự tồn hại các mô trong cơ thể

Tăng cường miễn dịch: một chén vải chứa khoảng 135mg vitamin C. Đây là hàm lượng vitamin C tương đối cao. Một trong những chức năng “ăn tiền” của vitamin C là tăng cường chức năng miễn dịch, tăng khả năng “phòng thủ” cho cơ thể, giúp cơ thể chống chọi với bệnh tật, nhất là các bệnh cảm, cúm…

Một làn da rạng ngời: mùa hè cũng là mùa “sát thủ” của làn da, làm cho da dễ nổi mụn và đốm do da tiết nhiều chất nhờn cộng thêm với bụi bẩn đường xa. Ngoài việc làm sạch, nuôi nấng da từ bên ngoài, bạn cũng cần nuôi dưỡng da từ bên trong. Trái vải sẽ giúp bạn thực hiện công việc này. Các chất chống oxy hóa có trong vải sẽ giúp da khỏe mạnh hơn, giúp da loại bớt những nét nhăn nhờ đó mà làn da trẻ trung hơn. 

DS. NGUYỄN BÁ HUY CƯỜNG

((Australia)

Nguồn: Sức khỏe đời sống